Trang

Slider Code Enter Here

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Sự tích chú Cuội



 Thằng Cuội ngồi gốc Cây đa
Thả trâu ăn lúa gọi cha ồi ồi
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên
Ông thời cầm bút cầm nghiên
Bà thời cầm tiền đi chuộc lá đa.


Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ
thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ,
Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ
thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi
con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi.
Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn
một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết.
Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy
một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con
cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ
tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.

Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh
xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm
sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi
chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:

- Trời ơi! Cây này chính là cây có phép "cải tử hoàn sinh" đây. Thật là trời cho
con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước
bẩn mà cây bay lên trời đó!

Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía
đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.

Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai
nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn
Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.

Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở
lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng
biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.

Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin
Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy
lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên,
rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà
giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.

Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi
Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh,
chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt
xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm
bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.

Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ
chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột
người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con
chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó
cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.

Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó,
làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: "Có đái thì
đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!". Nhưng vợ Cuội hình như lú
ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.

Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn
nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong
thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc,
lững thững bay lên trời.

Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ
đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người.
Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên,
không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây
kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.

Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng
xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng
tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn
lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi
dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa...
Theo onchedau.youneed.us

Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: shop trẻthơViệt Nam || shop trẻthơ HCM || shop trẻthơ HN

Các sự tích về tết trung thu



 Tết Trung thu

Nguồn gốc:
Tết Trung Thu theo âm lịch là ngày rằm tháng 8 hằng năm. Đây là ngày tết của trẻ em, còn được gọi là "Tết trông Trăng". Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân,... rồi bánh nướng, bánh dẻo. Vào ngày tết này, người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ.

Tục vui Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755).

Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y. Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu .

Về sau tết Trung Thu lan rộng sang các nước láng giềng và thuộc địa của Trung Hoa. Sách sử Việt không nói rõ dân ta bắt đầu chơi Tết Trung Thu từ bao giờ, chỉ biết hàng mấy trăm năm trước, tổ tiên ta đã theo tục này. Ngay từ đầu tháng tám âm lịch, chợ búa bắt đầu có màu sắc Trung Thu. Lồng đèn, bánh nướng, bánh dẻo đã được bày bán la liệt trong các cửa hiệu rực rỡ ánh đèn. Người mua lẫn người đi xem đông chen như hội.

Ngoài các loại đèn giấy, bánh kẹo còn có các con giống đầu lân, mặt ông địa bày bán đầy các chợ. Những nhà giàu còn bày cỗ Trung Thu để khoe tài nấu nướng của các cô con gái tới tuổi lấy chồng.

Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được ông Phan Kế Bính diễn tả trong "VN Phong tục": "ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Ðầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu các sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp".

Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: đồsơsinhtại HN || shop bánđồsơsinh || shop trẻthơViệt Nam


Các phong tục truyền thống Tết Trung Thu!



 Làm đồ chơi Trung Thu

Mặt nạ và đèn ông sao là hai loại đồ chơi phổ biến nhất trong dịp lễ tết Trung thu. Trước đây ở miền Bắc, khi còn trong thời kỳ bao cấp (1976 - 1986), các đồ chơi cho trẻ em vào dịp tết Trung thu rất hiếm, phần lớn các gia đình thường tự làm lấy đồ chơi như trống bỏi, đèn ông sư, đèn ông sao, đèn kéo quân, mặt nạ, tò he, chong chóng... cho trẻ em trong gia đình. Các loại mặt nạ thường được làm bằng bìa hoặc bằng giấy bồi, với các hình phổ biến về các nhân vật trẻ em yêu thích bấy giờ như : đầu sư tử, ông Địa, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Bạch Cốt Tinh... Ngày nay, phần lớn đồ chơi ở Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc, các loại mặt nạ được làm bằng nhựa mỏng, không đẹp bằng mặt nạ thời trước.
Rước đèn



Tại một số vùng nông thôn, những nơi mà quan hệ hàng xóm láng giềng vẫn còn được bảo tồn và trân trọng, người ta thường tổ chức cho trẻ em cùng nhau rước đèn đi khắp thôn, xóm, khu phố trong đêm trung thu. Lễ hội rước đèn có thể được phát động bởi chính quyền địa phương hoặc những nhóm thanh niên trong làng xóm. Họ phân công nhau làm những lồng đèn ông sao thật lớn hoặc những lồng đèn thật đẹp để thi thố với nhau trong lễ rước đèn. Tại nhiểu địa phuơng, người ta tổ chức rước đèn quy mô lớn với hàng ngàn học sinh tiểu học và trung học cơ sở đi khắp các đường phố. Đây là lễ hội rước đèn trung thu được xác lập kỷ lục lớn nhất Việt Nam.
Múa lân






Múa lân (ở miền Bắc thường gọi là múa sư tử mặc dù sư tử thì không có sừng) thường được tổ chức vào trước tết Trung Thu nhưng nhộn nhịp nhất là hai đêm 14 và 15.
Bày cỗ


Mâm cỗ Trung Thu thông thường có trọng tâm là con chó được làm bằng tép bưởi, được gắn 2 hạt đậu đen làm mắt. Xung quanh có bày thêm hoa quả và những loại bánh nướng, bánh dẻo thập cẩm hoặc là loại bánh chay có hình lợn mẹ với đàn lợn con bép múp míp, hoặc hình cá chép là những hình phổ biến. Hạt bưởi thường được bóc vỏ và được xiên vào những dây thép, phơi khô từ 2-3 tuần trước khi đến hôm rằm, và đến đêm Trung Thu, những sợi dây bằng hạt bưởi được đem ra đốt sáng. Những loại quả, thức ăn đặc trưng của dịp này là chuối và cốm, quả thị, hồng đỏ và hồng ngâm màu xanh, vài quả na dai...và bưởi là thứ quả không thể thiếu được. Đến khi trăng lên tới đỉnh đầu chính là giây phút phá cỗ, mọi người sẽ cùng thưởng thức hương vị của Tết Trung Thu. Phong tục trông trăng cũng liên quan đến sự tích Chú Cuội trên cung trăng, do một hôm Cuội đi vắng, cây đa quý bị bật gốc bay lên trời, chú Cuội bèn bám vào rễ cây níu kéo lại nhưng không được và đã bị bay lên cung trăng với cả cây của mình. Nhìn lên mặt trăng, có thể thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, và trẻ em tin rằng, đó là hình chú Cuội ngồ.

Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: shop bánđồsơsinh || shop trẻthơViệt Nam || shop trẻthơ HCM


Ngày Tết kể chuyện: Sự tích cây nêu ngày Tết.

Mỗi năm Tết đến, xuân về lại thấy đâu đó hình ảnh cây nêu. Cây nêu đã trở thành một nét đặc trưng trong ngày Tết Việt. Hôm nay phong le cũng xin góp vào không khí ngày Tết câu chuyện: Sự tích cây Nêu. Chúc các bạn một năm mới thành công và hạnh phúc.



Ngày ấy, không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách gì, Quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ăn nhờ ở đậu và làm rẽ ruộng đất của Quỷ. Quỷ đối với người ngày càng quá tay. Chúng dần tăng số phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít. Cuối cùng chúng bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do chúng nghĩ ra là "ăn ngọn cho gốc". Người không chịu. Chúng dùng áp lực bắt phải theo. Vì thế, năm ấy sau vụ gặt, Người chỉ còn trơ những rạ là rạ. Cảnh tượng xương bọc da thê thảm diễn ra khắp mọi nơi bên cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý.
Phật từ phương Tây lại, có ý định giúp người chống lại sự bóc lột tàn nhẫn của Quỷ. Sau mùa đó, Phật bảo Người đừng trồng lúa mà cào đất thành luống trồng khoai lang. Người cứ y lời làm đúng như lời Phật dặn. Quỷ không ngờ Người đã bắt đầu có mưu kế chống lại mình nên cứ nêu đúng thể lệ như mùa trước: "Ăn ngọn cho gốc".
Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy những gánh khoai lang chạy về nhà Người đổ thành từng đống lù lù, còn nhà mình chỉ toàn những dây và lá khoai là những thứ không nhai nổi. Nhưng ác nỗi, thể lệ đã quy định, chúng đành cứng họng không chối cãi vào đâu được.
Sang mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là "Ăn gốc cho ngọn". Phật bảo người lại chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ lại hỏng ăn. Những hạt lúa vàng theo người về nhà, còn rạ phó mặc cho Quỷ. Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau chúng tuyên bố "Ăn cả gốc lẫn ngọn". Lần này Quỷ nghĩ:
- Cho chúng nó muốn trồng gì thì trồng, đằng nào cũng không lọt khỏi tay chúng tao.
Nhưng Phật đã bàn với Người thay đổi giống mới. Phật trao cho Người hạt giống cây ngô để gieo khắp mọi nơi mọi chỗ.
Năm ấy có một lần nữa, Người sung sướng trông thấy công lao của mình không uổng. Trong nhà Người thóc ăn chưa hết thì từng gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đầy ăm ắp. Về phần quỷ lại bị một vố cay chua, uất ức hàng mấy ngày liền. Cuối cùng Quỷ nhất định bắt Người phải trả tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa. Trong bụng chúng nghĩ:
- Thà không được cái gì cả, còn hơn là để cho chúng nó ăn một mình.
Phật bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất vừa bằng bóng một chiếc áo cà sa. Nghĩa là Người sẽ trồng một cây tre có mắc một chiếc áo cà sa trên ngọn, bóng cà sa che bao nhiêu diện tích ở mặt đất thì là đất của Người sở hữu ở đó. Ban đầu Quỷ không thuận nhưng sau chúng nó suy tính thấy đất tậu ít mà giá rất hời bèn nhận lời:
- Ồ! Bằng chiếc áo cà sa có là bao nhiêu.
Chúng nó nghĩ thế. Hai bên làm tờ giao ước: Ngoài bóng tre là đất của Quỷ, trong bóng tre là đất của Người.
Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa bay toả ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hoá phép làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên đất trời trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che kín khắp cả mặt đất. Bọn Quỷ không ngờ có sự phi thường như thế; mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất của chúng, chúng phải dắt nhau lùi mãi lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa, phải chạy ra biển đông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ Ðông.
Tiếc vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất hậm hực, cố chiêu tập binh mã vào cướp lại. Lần này Người phải chiến đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội của Quỷ có đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó, ngao, bạch xà, hắc hổ, v.v... rất hung dữ. Phật cầm gậy tầm xích đánh giúp Người làm quân của Quỷ không tiến lên được.
Sau mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ gì. Phật cho chúng biết là sợ hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc. Ðối lại Phật cũng dò hỏi và biết quân của Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ: máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột.
Lần giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man nào là hoa quả đến ném Phật, Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi đem máu chó vẩy khắp nơi. Quân của Quỷ thấy máu chó, sợ hoảng hồn bỏ chạy.
Lần thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân Phật. Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi giã tỏi phun vào quân địch. Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi, nên cũng cắm đầu chạy biệt tích.
Lần thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào ném quân Phật. Người tha hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi bột vung vào Quỷ. Người lại lấy lá dứa quất vào chúng. Quỷ chạy không kịp, lại bị Phật bắt đày ra biển đông. Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ đực, Quỷ cái cuốn gói ra đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não. Chúng rập đầu sát đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm được hai ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên cha ông ngày trước. Phật thấy chúng khóc váng cả lên mới thương hại hứa cho.
Vì thế, hàng năm cứ đến ngày tết Nguyên Ðán là ngày Quỷ vào thăm đất liền, thì người ta theo tục trồng nêu để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở. Trên nêu có khánh đất, mỗi khi gió rung thì có tiếng động phát ra để luôn nhắc bọn Quỷ nghe mà tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ.
Có câu ca dao:
Cành đa lá dứa treo kiêu (cao)
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì Quỷ lại ra.
Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm
Ngày xưa người ta còn tin rằng những lúc cần đuổi quỷ như khi có dịch tễ chẳng hạn, thì treo một nắm lá dứa ở trước ngõ hay vẩy máu chó khắp nơi cho Quỷ khỏi quấy. Ðàn bà thường buộc tỏi vào giải yếm là cũng có một mục đích gần như vậy.

Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: bìnhsữafarlin || máyhútsữatốt || xeđẩyHàNội


Chuyện sự tích tấm cám



Ngày xưa, nhà kia có hai chị em cùng cha khác mẹ, chị là Tấm, em là Cám. Mẹ Tấm mất sớm, ít năm sau thì cha Tấm cũng qua đời. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.
Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ sai đi bắt tép, đứa nào bắt được nhiều thì được thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi để bắt. Còn Cám do được mẹ nuông chiều, ham chơi nên chẳng bắt được. Cuối buổi, thấy giỏ Tấm nhiều tép, Cám nghĩ kế rồi nói:
"Chị Tấm ơi chị Tấm
Đầu chị lấm bùn
Chị hụp[5] cho sâu
Kẻo về mẹ mắng!"
Tấm nghe lời em, xuống ao tắm gội. Cám thừa dịp trút hết tép của Tấm vào giỏ mình rồi chạy về nhà.
Lên bờ, thấy giỏ trống không, Tấm ôm mặt khóc nức nở. Bụt hiện lên hỏi, Tấm liền kể hết sự tình. Bụt bảo lấy con cá bống còn sót trong giỏ về nuôi dưới giếng, mỗi khi cho ăn thì gọi:
"Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa[6] nhà người."
Tấm về làm theo lời Bụt dạy. Từ ngày đó, mẹ Cám thấy Tấm hay dành một bát cơm mang ra giếng sau khi ăn, liền sinh nghi sai Cám đi rình. Biết được sự thật, hôm sau mẹ Cám bảo Tấm đi chăn trâu nơi xa[7], ở nhà mẹ con Cám bắt cá bống của Tấm lên ăn.
Về nhà thấy không còn cá bống, Tấm lại khóc. Bụt hiện lên, Tấm kể lại đầu đuôi. Bụt bảo lấy[[[ xương cá bống]] bỏ vào bốn cái lọ rồi đem chôn dưới bốn chân giường Tấm nằm. Tấm nghe lời Bụt dạy làm ngay.[8]
Ít lâu sau, nhà vua mở hội. Hai mẹ con Cám cũng đi dự. Tấm muốn đi dự hội nhưng bị mẹ Cám trộn một đấu gạo với một đấu thóc bắt ở nhà nhặt cho xong, vả lại không có quần áo đẹp để đi. Tấm buồn mà khóc. Bụt tiếp tục hiện lên giúp Tấm. Bụt gọi một đàn chim sẻ xuống nhặt thóc cho Tấm trong nháy mắt, rồi bảo Tấm đào bốn cái lọ ngày trước chôn ở dưới bốn chân giường lên. Tấm đào lên thì thấy bốn cái lọ chứa đầy quần áo đẹp, một đôi hài thêu kim tuyến óng ánh, lại có một con ngựa đầy đủ yên cương. Tấm thay quần áo rồi cưỡi ngựa đi. Lúc này, trông Tấm vô cùng xinh đẹp.
Lúc qua cầu, Tấm vô ý làm rơi mất một chiếc hài xuống nước. Một lát, đoàn hộ tống nhà vua đi dự hội nhặt được chiếc hài ấy. Vua ngắm chiếc hài rồi ra lệnh: "Hễ đàn bà con gái nào dự hội ướm vừa chiếc hài này thì vua sẽ cưới làm vợ." Ai cũng tranh nhau ướm thử nhưng không vừa. Mẹ con Cám cũng vậy. Đến lượt Tấm ướm thử thì vừa như in. Nhà vua cho đem kiệu rước Tấm về cung làm vợ mình trước con mắt hằn học của mẹ con Cám.
Ngày giỗ cha, Tấm về ăn giỗ. Dì ghẻ bảo Tấm trèo cây cau, hái cau cúng cha. Đang khi Tấm ở trên ngọn cau thì ở dưới dì ghẻ lấy dao chặt cây làm Tấm té mà chết. Cám lấy quần áo Tấm mặc rồi vào cung thay Tấm. Tấm chết biến thành chim vàng anh cũng bay về cung.
Thấy Cám giặt áo cho vua, chim bảo:
"Giặt áo chồng tao
Thì giặt cho sạch
Phơi áo chồng tao
Thì phơi bằng sào
Chớ phơi bờ rào
Rách áo chồng tao!"
Vua thấy chim hay bay theo mình, nhớ Tấm, liền bảo chim rằng:
"Vàng ảnh vàng anh
Có phải vợ anh
Chui vào tay áo."
Dứt lời, chim bay vào tay áo vua. Từ đó, vua suốt ngày quấn quýt với chim vàng anh, khiến Cám tức tối về mách mẹ. Mẹ Cám bảo Cám bắt chim đem cho mèo ăn, chôn lông chim ngoài vườn. Chẳng bao lâu nơi đó mọc lên một cây xoan đào, xum xuê tươi tốt. Vua thấy đẹp nên sai người mắc võng vào cây hóng mát. Mỗi khi nằm dưới bóng cây vua lại thấy hình ảnh Tấm hiện ra, nên rất quý cây. Cám được mẹ xui chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Lúc ngồi dệt vải, Cám nghe con ác[9] trên khung cửi kêu:
"Kẽo cà, kẽo kẹt.
Dám tranh chồng chị
Chị khoét mắt ra."
Cám hốt hoảng và nói với dì ghẻ. Nghe lời mẹ chỉ, Cám đốt khung cửi rồi đổ tro bên đường xa cung vua. Từ đống tro ấy mọc lên một cây thị, chỉ có duy nhất một trái to vàng. Một bà bán hàng nước đi qua thấy trái thị liền nói:
"Thị ơi thị rụng bị bà.Bà để bà ngửi chứ bà không ăn."Tức thì quả thị rụng ngay vào bị, bà lão đem về nhà. Từ đó, ngày nào đi chợ về bà cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm nước sẵn sàng. Ngạc nhiên, một hôm bà lão giả vờ đi chợ rồi quay lại rình xem. Bà thấy một cô gái xinh đẹp từ quả thị bước ra, nấu cơm, sửa soạn nhà cửa. Bà vội chạy vào nhặt cái vỏ thị, xé vụn. Từ đó hai người sống với nhau như mẹ con.
Một hôm, nhà vua đi ngang ghé hàng nước của bà. Bà lão rót nước mời vua ăn trầu. Thấy miếng trầu têm cánh phượng giống hệt trầu Tấm têm cho vua ngày xưa, nhà vua mới hỏi bà lão ai đã têm trầu. Bà lão gọi Tấm ra. Vua nhận ra vợ mình, đón Tấm trở về cung, hai người sống hạnh phúc như xưa.
Sau này, Cám thấy Tấm vẫn còn sống mà lại trắng đẹp hơn xưa nên băn khoăn tự hỏi vì sao. Tấm bày cho Cám tắm với nước sôi thì sẽ đẹp. Cám hí hửng làm theo, đổ một bồn nước sôi rồi tắm sau đó chết ngay tức khắc. Tấm sai người chặt xác của cám ra làm 8 khúc, lấy thịt làm cỗ mắm rồi gửi cho dì ghẻ ăn. Thấy Tấm có lòng tốt, dì ghẻ không nghi ngờ gì mà vẫn cứ ăn. Một con quạ chợt đậu lại bên cửa sổ, nhìn vào và hó:
"Ngon ngỏn ngòn ngon. Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng?"Mẹ cám nhận ra cỗ mắm mà Tấm gởi cho mình thật ra là thịt của Cám. Quá đau khổ, bà ta hoá điên chạy ra khỏi nhà và bị sét đánh chết.


Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: đồsơsinhtại HN || máyhútsữatốt || bìnhsữaembé


Nghìn Lẽ Một Đêm

Ngày xưa cách đây đã lâu lắm rồi, tại xứ Ba Tư vô cùng rông lớn kia, có các vị vua tranh nhau mở mang bờ cõi và nới rộng giang san của mình. Suốt một vùng sông "Gan" chạy dài đến sát biên giơí nươc Trung Hoa, cộng với tất cả những hòn đảo lô nhô mọc theo ven bờ biển.
Vào lúc đó, có một ông vua vô cùng minh mẫn, và oanh liệt, tiếng tăm vang lừng khắp nơi, với tài kinh bang tế thế, ông ta trị dân rất giỏi, đem lại cho đất nước và toàn dân cảnh thái bình thịnh vượng vô cùng hoan lạc, thần dân trong nước, ai ai cũng tôn kính và mến phục ông vua tài ba đó.
Đức vua có hai vị hoàng tử rất khôi ngô tuấn tú vô cùng anh dũng, hoàng tử anh tên là Sa Hy A, và hoàng tử em tên là Sa Hy Na. Hai vị hoàng tử rất yêu thương và quí mến nhau không bao giờ họ xa nhau đến nữa bước. Nhà vua tuổi đời mỗi ngày một cao, sau khi người băng hà, để theo đúng luật lệ trong nước từ trước, ngai vàng liền được trao cho hoàng tử anh là Sa Hy A để tiếp tục thay thế vua cha trị vì bờ cõi. Như chúng ta đã biết ở trên, hai vị hoàng tử rất yêu thương nhau, vì thế khi hoàng tử Sa Hy A được lên ngôi vua thì lại càng thương yêu em vô cùng.Hoàng tử nghĩ không lẽ hai anh em ăn cũng một mâm , ngũ chung một giường từ nhỏ đến lớn mà lại nỡ để em vẫn là kẻ tầm thường như trước ; nghĩ thế hoàng tử liền cắt một phần đất của phụ vương để lại nhường cho em mình cai trị
Sa Hy Na là một vị hoàng tử rất biết điều, không vì thấy anh mình quyền cao tước trong mà tỏ vẻ ganh tỵ hoặc ghen , vẫn tìm một mức sống bình thường , cũng không trách thân than phân, hoặc buồn cho địa vì hẩm hiu của mình. Vì thế khi thấy anh mình có ý định nhưòng cho mình một phần đất đai thì Sa Hy Na biết là anh mình thật lòng thương yêu mình mới có ý định như thế. Sa Hy Na không dám từ chối , sợ buồn lòng anh , chàng liền nhận lời ngay. Thế là từ đó, hai anh em Sa Hy A và Sa Hy Na thành hai vị quốc vương ; vua anh là hoàng đế nước Ba Tư còn vua em là hoàng đế nước Thát Đát. Hai kinh đô xa cách nhau hàng mấy ngàn dặm và mỗi người đều lo nhiệm vụ của mình. Vì thế họ ít khi được gặp nhau để hàn huyên tâm sự như ngày còn thơ ấu. Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua nhưng không vì thế mà tình anh em ruột thịt của hai ông vua đó phai nhạt. Thời gian chìm đem lại bao nhiêu sự nhớ nhung của anh em họ Sa với bao nhiêu nỗi buồn xa lìa cách trở. Hơn mười năm qua, hai anh em nhớ nhau quá, nhưng vua anh đang trị vì một nước, quyền binh trong tay rất mạnh mẽ , quân với tướng hàng trăm vạn , tất cả thần dân đều trông cậy và tin tưởng vào mình. Vì thế mặc dù hết sức nhớ nhung nguòi em thân yêu đã bao năm cách biệt mà vua anh cũng không thể nào trao quyền nhiếp chính cho nguòi thân thuộc để di thăm em được. Vì thế vua Ba Tư liền sai một viên quan đại thần mang thơ sang nước Thát Đát để mời em về kinh đô Ba Tư hội ngộ cho thoả tình mong nhớ bấy lâu.
Vua em nhận được thơ của anh thì vui mừng vô hạn liền cho trọng đãi sứ thần của anh mình và yêu cầu sứ thần nghỉ ngơi ở nhà quán ít lâu để cho minh lo liệu thu xếp mọi việc cần thiết trong cung , cử nguòi trong coi việc nưóc thay mình ít lâu trước khi lên đuòng theo sứ giả sang kinh đô Ba Tư để hội kiến vua anh. Sau khi đã chọn một viên quan đại thần đáng tin cậy để trao quyền nhiếp chính thay mình coi việc ít lâu, nhà vua liền từ giả Hoàng Hậu , rồi sửa soạn lên đuòng. Ra khỏi kinh đô chừng muòi dâm , trời ngã hoàng hôn , vua liền truyền lện hạ trại nghỉ và tổ chức một bũa yến tiệc linh đình để khoản đãi sứ giã của anh một lần nũa , cũng để chia tay các vị đại thần có lòng quyến luyến đi theo tiễn chân mình.Đêm đó thật là một đêm hoa đăng mở hội , vua tôi chén tạc chén thù vô cùng thân mật , lần lượt các quan đại thần , sứ giả rồi quân lính đều thi nhau say mềm , chỉ còn một mình nhà vua vì trong lòng muốn gặp anh ngay nên thấp thỏm không mấy yên dạ. Thấy tấc cả mọi nguòi đã ngủ say, nhà vua một mình thơ thẩn đi dạo mát , đêm bước dưới ánh trăng soi sáng để tuỏng nhó tới với anh mình, rồi suy nghĩ miên man hồi lâu , nhà vua chợt nhớ đến hoàng hậu ở nhà, nguòi vợ trẻ mà nhà vua yêu dấu, sẽ phải xa cách mình một thời gian dài trong thâm cung hiu quạnh và nghiêm nhặt. Càng nghỉ nhà vua càng lấy làm thuong hoàng hậu , thấy đêm nay còn dài , nhà vua liền quyết định lên ngựa trở về hoàng cung để từ biệt hoàng hậu một lần nũa, an ủi nàng ít lời cho trọn nghia vợ chồng.
Vừa buóc vào hoàng cung , lòng ông vua đa tình rôn lên một niềm vui khôn tả , ngài yên chí hoàng hậu sẽ vô cùng vui suóng và xiết bao cảm đọng trước sự trở về đột ngột của mình. ngài sẽ ôm nàng trong vòng tay đế nỉ non tâm sự , để an ủi vỗ về và để dằn dò cặn kẻ , ngài sẽ hứa với nàng dù xa cách ngàn trùng nhưng luôn luôn lúc nào ngài cũng sẽ mãi mãi chung thuỷ với nàng và nhớ đến nàng !! Ngài sẽ,...
Nhưng...
Cánh của phòng hoàng hâu vùa đuọc nhà vua mỏ hé ra thì giấc mọng đẹp trong lòng ông vua trẻ đa tình nọ cũng tan theo mây truóc ! Một sự phũ phàng hiển nhiên hiên ra trước mặt ngài.Trên một chiếc giuòng khảm ngọc vô cùng lộng lãy mà nhà vua từ truóc đến nay chỉ có một mình ngài và nguòi vợ trẻ thân yêu đặt mình lên đó ! Thì hõi ơi, truóc mắt ngài , duói ánh đèn mờ ảo, nguòi vợ thân yêu của nhà vua, nguòi đàn bà mà ngài đặt hêt lòng tin tuỏng và tha thiết yêu thương , hay nói cách khác, vị hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ đuọc tất cả thần dân trong nuóc tôn kính đang nằm trong tay một chàng trai trẻ khoe mạnh , một viên võ tướng trẻ tuỏi , cả hai đang âu yếm ôm nhau nằm ngũ ngon lành, vai kề má dựa như đôi vợ chồng chính thứNhà vua đứng chết lặng nguòi ra một hồi lâu trước sự thật phũ phàng đó. (Ngài thầm cầu mong đó là một ảo tưởng. Vì ngài không tin ở nhãn quan của mình. Ngài không dám tin đó là sự thật đang hiện ra trước mắt!). Thật thế , ngài không thể nào ngờ được nguòi thân yêu của mình, nguòi mà ngài đặt hết tin tưởng , chỉ mới cách xa ngài một sớm một chiều đã nỡ đem lòng phản trắc như thế ! Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Dù nhà vua có muốn khác đi nữa cũng không thể nào được như ý ! Qua phút sững sờ , cơn thịnh nộ của đấng quân vương bắt đầu bùng dậy. Nhà vua giận đến run nguòi lên. Ngài không thể nào dằn được cơn giận nữa. Lập tức ngài rút kiếm ra, bước lại bên giường đôi gian phu dâm phụ. Lưỡi gươm sáng loáng của nhà vua hạ xuống, hai chiếc đầu lập tức lìa khỏi cổ ; không thể nhìn lại hai xác của hai kẻ phản phúc, nhà vua lặng lẽ chùi lưỡi gươm đẫm máu vào tâm riềm cửa rồi tra gươm vào vỏ , ngài lặng lẽ lên ngựa trở về chỗ đóng trại. Sáng hôm sau xa giá tiếp tục lên đuòng ,chiêng trống dộng lên vang trời, tiền hô hậu ứng , thật là rầm rộ , lòng mọi nguòi cảm thấy hân hoan khôn tả truóc cuộc du ngoạn kỳ thú đó , chỉ riêng có lòng nhà vua là rối loại tơi bời, ngài không còn một chút lương tri hưởng thú vị trong cuộc hội ngộ với anh thân yêu sắp tới.
Đến kinh đô nước Ba Tư vua Sa Hy A cùng quần thần ra thật xa để đón em. Cuộc tiếp đón tổ chức vô cùng quan trọng. Hai anh em vừa thấy nhau đã cùng chạy lại ôm lấy nhau cảm động ,lặng lẽ kể kể những tâm sự cũng như nỗi buồn nhớ nhung trong bao năm trời xa cách.Tình thương của hai anh em trong bao năm tròi xa cách chỗi dậy mạnh liệt. Quốc vương Ba Tư cùng em song đồi ngựa chậm rãi bước vào thành trước sự hoan hô nồng nhiệt của dân chúng. Nhà vua cho dọn một gian phòng cực kỳ tráng lệ , sát với phòng mình cho vua em ở. Rồi tiếp theo đó , mỗi ngày một đại hội tưng bừng nào là yến tiệc, đàn ca , hát xưóng cùng tất cả các trò vui hoan lạc và lạ mắt nhất đều được vua Sa Hy A cho tổ chức để vua em thưởng thức suốt đem ngày, gần như không bao giờ chấm dứt. Hai vua bỏ cả lễ nghi phiền phức, luôn luôn sát bên nhau như thuở còn thơ ấu; nỉ non tâm sự biết bao nhiêu ngày mà cũng chưa hết. Mấy hôm đầu tiên, vì sự vui mừng được gặp lại nguòi anh khả kính cùng những cuộc vui mà vua anh tô? chức cũng làm cho vua Sa Hy Na khuây khoả được nỗi buồn riêng trong lòng một phần nào. Nhưng dần dần hình ảnh nguòi vợ thân yêu năm gọn trong tay viên võ quan trẻ tuổi hiện ra trước mặt nhà vua mỗi lúc một rõ ràng; nó ám ảnh nhà vua từng giây từng phút, làm cho nguòi cố quên đi nhưng không được. Lâu dần nỗi buồn mỗi ngày một tăng thêm, khiến cho vua Sa Hy Na mất ăn mất ngủ ,quên cả vui đùa , nói năng.
Vua anh vẫn không hiểu rõ được nỗi buồn của em. Ngài nghĩ rằng trước cảnh huy hoàng tráng lệ , với cung điện nguy nga , lầu các của mình khiến cho em chàng chạnh lòng nghĩ đến quê hương, thần dân và hoàng hậu , vì thế vua anh lại càng cố tổ chức nhiều trò vui thật hấp dẫn và lạ mắt hơn để mong em sẽ vui lòng khuây khoả rồi nồi buồn cố quận.
Nhưng sự thật đâu phải vậy, vì thế, mặc dầu biết bao nhieu trò vui lạ mắt , vua Sa Hy Na vẫn không sao quên được nỗi buồn riêng trong lòng mình. Vua Sa Hy A vẫn hiểu lầm và nghĩ rằng có lẽ những cuộc vui rông lớn bao quát ngoài thiên nhiệ may ra mơi có thế làm vơi đuọc phần nào nhớ quê hương trong lòng em mình. Nghĩ thế ,nhà vua liền lập tức cho tổ chức một cuộc săn bắn nơi một cánh rừng có nhiều dã thú nhất, cách kinh đô khác xa và ngoài ra còn có nhiều cảnh lạ thiên nhiên hiếm có. Nhưng nỗi buồn trong lòng Sa Hy Na là nỗi buồn của tâm bệnh, vì thế ngài còn thiết gì đến cuộc săn bắn, chỉ thêm uể oải thể xác. Ngài bèn thoái thác và tìm cách chối từ cuộc đi săn của anh mình. Nhưng cuộc đi săn đã tổ chức xong , ngoài ra còn có nhiều viên quan trọng triều được mời tham dự. Vì thế Sa Hy A không muốn các quan sẽ phật ý về em mình, và cũng không muốn ép uỏng em, ngài phải buộc lòng để Sa Hy Na ở nhà và đi săn một mình cùng các vị quan trong triệu
Sẵn trong lòng đang buồn rầu , Sa Hy Na chỉ thích được yên tĩnh, vì thế khi ở nhà mo^t. mình, vua em thấy dể chịu hơn, nhà vua liền lần đi dạo vườn thượng uyển của anh để ngắm cảnh hoàng hôn, mong sẽ vui được phần nào nỗi buồn đang canh cánh bên long`. Mặt trời xế bóng nắng vàng cũng gần tàn rụng sau cánh hoa, ngọn lá. Nõi buồn của Sa Hy Na lại theo cảnh vật mà tăng lên. Ngài vừa toan trở lại phòng riêng để suy nghĩ đến thói đời đen bạc , thế thái nhân tình, thì bỗng ngài giật mình vì thấy cánh của phòng vua anh hé mở. Rôi` từ đó, bước ra một đám cung nữ , tất cả đều ăn mặc lọng lẫy xiêm y rực rỡ; mặt che mạng rất đài các, tất cả đều hớn hở buóc lần ra giũa vường thượng uyển. Ra đến giữa vươn, bọn nguòi họ liền lần lượt trút bỏ xiêm y và bỏ luôn cả khăn che mặt. Núp sau một lùm cây, Sa Hy Na ngạc nhiên xiếc bao khi thấy đám nguòi đó tất cả không phải là cung nữ trong triều. Chúng gồm có mười một nàng con gái da trắng và mười tên da đen lực lưỡng, ăn mặc giả làm cung nữ, tất cả đều trần truồn như nhộng. Rồi mỗi tên da đen liền ôm lấy một co gái da trắng mà trửng giỡn. Điều làm cho Sa Hy Na ngạc nhiên hơn nữa là trong muời một nàng con gái nọ lại có cả hoàng hậu , vợ vua anh. Bà ta cũng trút bỏ hết cả xiêm y trên mình và loã lồ như tất cả những kẻ khác, mĩm cuòi tỏ vẻ hài lòng lắm. Nhìn quanh quất một hồi lâu xong, bà ta liền nhẹ vỗ hai tay vào nhau ba tiêng liền rồi cất tiếng gọi: "Ma Zu ! Ma zu !".
Hoàng Hậu vừa dứt lời, tức thì từ trên một cành cây sát vách bờ tường của hoàng thành, một tên da đen lực lưỡng khác nhanh nhen tụt xuống. Hắn chạy lại ôm gọn hoàng hậu vào lòng mà nựng nịu, mơn trớn. Bọn nguòi trong vường thưọng uyển cũng say đắm trong niềm ái ân hoan lạc , bất chấp cả mọi vật chung quanh. Có lẽ Hoàng Hâu và bọn cung nữ dâm dật và đám thanh niên da đen kia tưỡng lầm là vua và em đa di săn thật xa nên càng yên trí cuòi đùa, nô giỡn. Họ cùng đê mê trong những cuộc giao hoan cuồng loạn , chạy đuổi, rượt bắt nhau dưới ánh trăng khi mờ khi tỏ. Họ yên trí rằng giờ phút đó chỉ có mình họ biết với nhau và chứng kiến cùng nhau quang cảnh dâm ô đó. Chứ có ngỡ đâu, có một nguòi đang theo dỏi từng cử chỉ của họ. Cuộc vui sa doạ của Hoàng Hạu và đám nguòi kia kéo dài đến quá nữa đêm. Sau khi đã chán chê, thoả thích , họ liền rủ nhau cùng nhảy xuống hồ nước để tấm rửa và trừng giỡn một hồi lâu nữa dươi làn nước bạc mát rượi rồi mới chịu từ giã nhau ! Hoàng Hậu và đám cung nữ cùng muòi ten da đen lại mặc quần áo vào và lấy mạng che mặt lại như cũ, xong lặng lẽ kéo nhau trở về Hoàng Cung ; còn tên da đen "Ma Zu" nhân tình của hoàng hạu thì lại theo lối củ chuyền cành cây và nhảy ra khỏi Hoàng Thành. Ông vua bất hạnh Sa Hy Na đứng chứng kiến cảnh tượng man rợ đó ngay từ phút bắt đầu đến hồi kết cuộc, lòng buồn rười rượi, không biết bao nhiêu là ý nghĩ vui, buồn , giận , ghét nhảy múa trong lòng vị vua trẻ tuổi, từ chỗ buồn chán cho thân phận hẫm hiu của mình rồi lại nghĩ đến anh đường đường là một vị đương kim Hoàng Đế quyên uy tột bực, trong tay quân hàng trăm vạn ! Dưới trướng bao kẻ hầu nguòi bẩm mà cũng khôn hơn gì mình !
Cuối cùng Sa Hy Na tự nhiên biện luận rằng có lẽ đó là một cái tai nạn chung của tất cả các ông chồng trên thế gian này và nếu tất cả mọi nguòi đều đã bị cùng một cái nạn như nhau thì còn buồn chán làm gì một cách phi lý như vậy nữa ! Càng nghĩ, Sa Hy Na càng cảm thấy lý luận của mình là đúng; và cuối cùng ông vua trẻ tuổi đó liền tự nhủ lòng nhất quyết gạt bỏ mọi nỗi ưu phiền sang một bên, coi như đó chỉ là một câu chuyện thường tình như trăm ngàn câu chuyên khác nhờ đó, Sa Hy Na liền cảm thấy lòng tươi vui trở lại và không còn vương vấn một chút gì buồn bực trong lòng nữa ! Nhà vua cảm thấy yêu đời trở lại ; ông bắt đầu ăn thấy ngon, ngủ được yên giấc và không còn một chút ưu tư trên nét mặt !
Ít hôm sau, vua nước Ba Tư đi săn trở về ; Sa Hy Na vui vẻ ra khỏi ngoài thành một quãng khá xa để đón anh mình; Sa Hy A vô cùng ngạc nhiên khi thấy nét mặt em mình đã rạng rỡ trở lại, không còn ủ ê, dàu dàu như trước nữa ! Trong lúc xa vắng em, ông tưởng khi trở về em mình sẽ còn buồn bã nhiều hơn nữa vì chỉ có một mình thui thủi ở nhà, nào ngờ em mình đã trở nên vui vẻ như cũ. Sa Hy A ôm chầm lấy em , thổn thức nói: "ANh Em chúng ta biết bao ngày xa cách nhau, giờ mới được tái ngô. Mấy hôm nay thấy em buồn luôn buồn rầu, lòng anh thật bức rứt không yên". Nói Xong, hai anh em vui vẽ nắm tay nhau đi vào cung, vua Ba Tư lập tức ra lệnh cho quân hầu tổ chức một bữa yến tiệc thật linh đình để ăn mừng em đã hết ưu tư; trong bữa tiệc vui vẽ;
Sa Hy A ân cần hỏi em: " ANh rất ngạc nhiên không hiểu tại sao mấy hôm trước em buồn phiền quá vậy ; và nhờ lý do nào giờ đây em đã được vui tươi trở lại; phải chăng có kẻ nào đã làm em không hài lòng chẳng Hoặc có lý do uẩn khúc nào khác?
Sa Hy Na nhìn anh mỉm cười một nụ cườ chua chát đap: " Nếu vì một lý do riêng; em có thể nào im lặng và không trả lời câu hỏi của anh được không? "
Vua Ba Tư ngạc nhiên hỏi em: Từ khi anh em chúng ta lớn lên đến giờ; chưa bao giò chúng mình giấu nhau bất cứ một điều gì; dù là chuyện riêng của nhau, hoặc là chuyên tâm tình. Sao em lại có ý nghĩ lạ lùng như vậy? Em hãy nói ngay cho anh được rõ.
Vị vua em nhìn anh buồn rầu nói: Anh nói rất phải, anh em mình chưa hề giấu nhau bất cứ một chuyện gi; nhưng đây là một trường hợp đặc biệt; nếu em có nói ra cũng chỉ làm cho anh tức giận và buồn thêm chớ không ích gì !
Thấy thái độ kỳ hoặc của em, Vua nước Ba Tư càng trở nên tò mò thêm, ông quả quyết nói: Không !! Em đừng e ngại gì cả; em phải nói cho anh rõ ngay kẻo anh bứt rứt có thể chết được ! ANh xin thề trên tình anh em thiêng liêng của chúng ta là anh có đủ can đảm để nghe câu chuyện của em kể, dù là chuyện đó tày trời đến đâu chăng nữa, em cũng đừng nên e ngại gì cả !!
Ông hoàng Sa Hy Na qua một phút ngập ngừng lưỡng lự, nhưng sau cùng, biết không thể giấu được câu chuyện dâm ô kia liền đem chuyện tên nô lệ Ma Zu và Hoàng Hậu Ba Tư kể lại cho anh nghe không sót một ly nào. Sa Hy A nghe xong câu chuyện, mồ hôi vã ra như tắm, nét mặt thay đổi, từ giận dữ đến u buồn. Thấy Anh mình thất sắc, Sa Hy Na an ui: " Thua Anh, câu chuyên thường tình đó đối vơi" em không có gì quan trọng, chả hơi đâu mà anh bận lòng, có lẽ đó chính là một tai nan mà các nguòi chồng đều phải chịu khi có một nguòi vợ thiếu đoan chính". Vua nước Ba Tư có vẻ không tin lời em mình kể lại trên nên ngồi im, vẻ mặt trằm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói: " Có lý nào, Hoàng Hậu một cường quốc lại có thể quên địa vị của mình làm điều nhơ nhuốc đến thế, anh không thể nào tin được nếu không thấy tận mắt". Sa Hy Na quả quyết nói: " Nếu anh muốn nhìn thấy cảnh tượng ấy cũng không có gì khó khăn, anh hãy tổ chúc thêm một chuyến săn bắn khác rồi thừa lúc mọi nguòi lầm tưởng anh đang mê mải vói con mồi anh hãy quay về HOàng Thành, núp vào đây, anh sẽ tìm ra sự thật. Sa Hy A khen phải và nha^t định thi hành. Hai hôm sau vua nước Ba Tư cùng em và đoàn tuỳ tùng ra khỏi hoàng thành , tiến về một khku rưng xaa rồi truyền hạ trại. Sa Hy A naii nịt gọn gàng liền gọi một viên đại thần đến nói: "Vì có việc cần, trẫm phải giao quyền quản thủ cho khanh để đi xa, Khanh hãy truyện cho tất cả ở đây cấm không cho một ai rời đây. Nói Xong ngài liền lên ngựa cùng em tìm đường tắt lăng lẽ trở lại Hoàng Cung
Hoàng hôn buông xuống cảnh vật một bóng tối mờ ảo, vườn thượng uyển chập chờn trong bóng hoa, ánh trăng non buông xuống nét vàng lợt. Vào đến cung điện của mình, vua nước Ba Tư và em là Sa Hy Na một đêm không thể nào chợp mắt được. Thỉnh thoảng họ lại nhìn qua của sổ tối đen bên kia nơi đã diễn tả cảnh dâm ô lần trước. Gà đã gáy sang canh, màu sữa loãng của ánh trăng ngả sang màu sáng , sự vắng lặng vẫn bao trùm cảnh vật. Trong lúc hai nguòi đướng nóng lòng thì đột nhiên một tiếng động nhẹ rồi cánh cửa bí mật của thâm cung hé ra, hoàng hậu Ba Tư dẫn đầu , theo sau là hai muoi cung nữ mỉm cuòi bước ra. Từ trên cây ten Ma Zu tuột xuống cùng với các tên nô lệ, rồi cảnh tượng ấy diễn ra sau khi xiêm y trút bỏ mọi việc đều xảy ra như hôm nọ. Sa Hy A thấy thế chết điếng ngồi trân như một pho tượng gỗ, một lúc sau hoàn hồn ngài liền thốt ra những lời giận dữ lần cay đắng: Thượng Đế Ơi ! Nhục nhã và ghê tởm quá, ái có thể ngờ được một bậc mẫu nghi thiên hạ , một hoàng hậu của cường quốc nhất thế gian lại có một hành động bỉ ổi đến thế , trên đời này làm thế nào co một nguòi đàn ông còn dám tự phụ là mình chiếm trọn vẹn tình yêu của vợ mình nữa. Quá đau đớn , Sa Hy A ôm em vào lòng bảo: "Em ạ , thật ta không còn muốn sống một phút nào ở cung son gác tía, thôi chúng ta hãy tìm đến một nơi xa hẳn loài nguòi đen bạc đi.
Sa Hy Na tuy không còn buồn khổ song thấy anh quá đau đớn thì không dám khuyên can, chỉ khẻ bảo: Thưa anh, em rất vui lòng theo anh đến một nơi nào nhưng em xin phép giao ước với anh một điều. Sa Hy A hỏi: "Em muốn nói điều gì?" Vua Thát Đát mỉm cuòi nói: "Em muón xin anh một đều kiện là khi nào chúng ta gặp một kẻ kém may mắn hơn chúng ta thì ai sẽ về nước nguòi đó mà giữ gìn giang sơn
(còn tiêp , xem bên dưới)



Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: xeđẩygiárẻ || bìnhsữa Pigeon || shop trẻthơ HN


Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Nàng Tiên Thứ 9

Một bà cụ có một người con trai lớn, nhưng bà nghèo quá chẳng có tiền để hỏi vợ cho con. Ðêm nào thấy con trai nằm ngủ một mình bên bếp lửa, bà cũng ra đầu sàn ngồi nhìn trời mà khóc. Một đêm, sau khi khóc nhiều quá, bà ngã đầu vào cái vách ngủ mê đi lúc nào không biết. Một ánh chớp loé lên, bà cụ vội mở mắt thì thấy một ông già râu tóc bạc phơ, mặc áo xanh, đi giầy xanh, chống gậy xanh, đứng trên ngọn cây mít. Hoảng quá, bà cụ định chạy vào bếp, thì thấy ông cụ già khoát tay, cất giọng hiền từ bảo: "Ta là tiên, biết bà đang khổ vì cảnh nghèo khó, không có tiền đi hỏi vợ cho con, nên ta giúp. Ngày mai bà bảo con trai bà đi theo hướng ta chỉ, cứ đi mãi đến ngọn núi có phiến đá trắng to như cái nhà kia, sẽ thấy chín nàng tiên xuống tắm. Con trai bà yêu cô nào, thì cứ lấy đôi cánh của nàng tiên ấy đem về nhà là được."
Nói xong Tiên ông biến mất. Mừng quá, bà cụ liền đẩy cửa, vào thổi bếp lửa cháy bùng lên, gọi con dậy, kể lại đầu đuôi câu chuyện vừ qua.
Tờ mờ sáng hôm sau, người con trai gói cơm, đeo ống nước, băng rừng, leo núi, leo hết núi này đến núi khác, đúng trưa mới đến chỗ tiên ông bảo. Một cảnh tuyệt đẹp hiện ra trước mắt. Hồ nước xanh biếc, trong vắt như gương, có đường xuống bến tắm, trên bờ hoa thơm, cỏ lạ đang đua nở khoe sắc cùng ong bướm, sỏi đá lấp lánh như kim cương.
Thấy nắng rung rinh, chàng đưa mắt ngó lên trời, bỗng từ trong đám mây hồng có chín nàng tiên mặc áo xiêm trắng, đang bay và hạ xuống dần. Chàng con trai nghèo liền nép vào bụi nhìn theo. Chín nàng tiên đã đứng trên các phiến đá ngọc, cởi cánh ra, lội xuống tắm. Nước trong, da các nàng tiên trắng ngần, nhìn cô nào cũng đẹp lộng lẫy như mặt trời mọc. Duy có nàng thứ chín là đẹp hiền hậu hơn cả. Tóc nàng đen mướt và dài như dòng suối, giọng cười trong và thanh như tiếng sáo ngân vang: miệng đẹp hơn hoa nở, mắt sáng như sao, khi nàng nhìn vào vật gì vật đó rực lên như có trăm ngàn ánh hào quang chói sáng. Chàng trai liền lẻn đến lấy trộm cặp cánh tiên của cô thứ chín, rồi trở về nhà.
Trống trên trời gióng bảy hồi khoan nhặt báo giờ các cô phải về tiên cung. Tám cô chị lên bờ, lắp cánh của mình và bay trước. Còn cô em mải đùa nghịch dưới làn nước mát, lên sau. Không thấy cánh tiên đâu nữa, nàng hoảng hốt cuống cuồng chạy quanh bờ. Trống trên trời vẫn giục giã, sắp đến giờ đóng cửa của thiên đình. Nàng tiên thứ chín lại chạy quanh bến nước chăm chú tìm lại, nhưng thông thấy. Nhìn dấu chân người còn in trên cát mịn, dấu chân trên đường xuống núi, biết có kẻ lấy đôi cánh của mình rồi, nàng vội vã cài lại áo xiêm, lần theo dấu chân đi mãi. Xế chiều nàng đến một ngôi nhà sàn nhỏ, dựng lẻ loi dưới chân núi. Nàng đang phân vân không biết đi ngả nào, thì một cụ đến bên nàng chào hỏi: "Cháu ơi! Ðường xa vắng vẻ, cháu đi một mình như thế này nguy hiểm lắm, cháu hãy vào nhà ta ăn cơm, uống nước rồi nghỉ lại đã." Nhìn nét mặt hiền hậu của bà cụ, nàng tiên gục đầu vào vai bà khóc, kể lại việc nàng bị mất đôi cánh tiên nên không về trời được. Bà cụ đưa nàng vào nhà. Chàng con trai sung sướng bước ra chào hỏi, rồi vào rừng bẻ măng, nhổ nấm đem về đưa mẹ nấu canh cho cô gái ăn. Tối chàng ngồi kéo đàn kơ ri - loại nhạc cụ réo rắt như đờn cò của người kinh - cho cô gái yên giấc.
ở đây một tháng, hai tháng, lúc đầu nàng tiên thứ chín hết sức nhớ mẹ, nhớ cha, nhưng được sự chăm sóc, trìu mến của bà cụ và chàng trai hiền hậu, siêng năng, nên nàng khuây khoả dần. Buổi sáng nàng cũng đi lên rẫy, vào rừng, buổi chiều nàng cũng ra giếng đội nước với chị em.
Nửa năm sau người con trai bà cụ lấy nàng tiên. Hai vợ chồng sống bên nhau rất hoà thuận, vui vẻ. Dân làng ví họ là cặp vợ chồng chim sáo - vì họ vừa xinh đẹp, vừa chịu khó làm ăn. Người chồng chưa bao giờ mắng vợ nửa lời. Chiều nào lên rừng về, chàng cũng cố tìm cho mẹ và vợ một ống mực thơm, một bó rau ngót, một bó măng, hay lưng gùi ngô non thơm sữa. Hai mùa, ba mùa, đến một đêm trăng tròn vành vạnh, nàng tiên thứ chín sinh được một đứa con trai kháu khỉnh. Từ đó, trong nhà càng thêm đầm ấm, vui vẻ hơn. Nhưng một hôm trời đang yên lành, bỗng có tiếng sấm ầm ầm, giận dữ. Mây đen, mây xám kéo đầy trời. Lửa đỏ rực, chớp nhằng nhịt dữ tợn Người vợ vừa cõng con ra đứng đầu sàn phía tây, đột nhiên thấy thiên lôi từ trên trời cầm búa nhảy xuống sân. Mặt giận dữ, Thiên lôi bảo rằng, hắn vâng lệnh Trời, xuống bắt nàng tiên phải về ngay, nếu không sẽ giết chết con nàng, giết cả chồng và người mẹ chồng của nàng nữa. Thương con, thương chồng quá, nàng tiên ngã gục xuống khóc nức nở rồi chạy vào nhà rút ba ống nứa dài vắt đầy sữa, nhẹ nhàng đặt con lên chiếu, cắt một nắm tóc để lại cho chồng, rồi theo Thiên lôi về thiên đình.
Chiều bà cụ và người chồng về nhà, không thấy nàng tiên, chỉ thấy đứa con nằm ngủ bên nắm tóc thơm của mẹ nó. Nhìn cây cối ngả nghiêng, cháy xém, biết có điều hung dữ xảy ra, chàng cõng con trên lưng, bước xuống cầu thang đi vào rừng, nhìn trời khóc suốt chín ngày đêm. Tiếng khóc ai oán, ấm ức nghe nghẹn cả cổ, đau cả lòng. Ðược tin, dân làng thương quá, rủ nhau giúp sức, góp của. Nhờ bác thợ rèn chuyên nghề chim sắt biết bay, đúc cho hai cha con người xấu số ấy một con chim công sắt.
Ðược chim sắt rồi, hai cha con ngồi trên lưng công bay vút lên trời. Qua mây hồng, mây bạc, mây xanh, đến sông Hằng sắp tới triều đình, thì công sắt không tài nào bay qua được. Gió to, sóng gầm dữ dội. Năm bảy lần con công cất cánh đều lao đao muốn rớt. Hai cha con đành ở bên này sông. Một hôm, người vợ ra sông giặt áo, đứa con nhỏ thấy mẹ, liền gọi lên. "Mẹ ơi!" Người vợ quay sang, hai vợ chồng nhìn thấy nhau, nhưng không gần nhau được. Ðau khổ quá, họ bưng mặt khóc.
Dân làng nhà trời thấy vậy vô cùng thương xót. Họ vào xin thiên đình cho hai vợ chồng được gặp nhau. Nhưng thiên đình không cho, viện cớ sắp gả nàng tiên thứ chín cho chàng trai thuộc dòng họ quyền quý. Không quản ngại, dân làng liên tiếp cử người đến gõ cửa, buộc thiên đình phải xử. Cuối cùng Ngọc Hoàng phải xuống lệnh nếu chồng cô thứ chín làm được mấy việc sau này mới lấy được con gái nhà trời. Thứ nhất là trong một ngày phải nhặt hết số vừng rơi trong khu rẫy dài bằng một khoảng chim bay mỏi cánh. Thứ hai là phải ăn hết những ớt gió đã chín trong một khu rừng ớt. Thứ ba là phải làm một cái nhà bằng kim cương thật đẹp giữa sông Hằng. Thương con, thương vợ người chồng phải nhận. Sáng hôm sau, hai cha con dậy thật sớm để nhặt vừng, nhưng mãi cho tới trưa, khi mặt trời đã ở giữa đỉnh đầu mà vẫn chưa nhặt được bao nhiêu. Thấy thế, Tiên ông liền đọc phù chú, gọi một bầy chim sẻ đông nghịt, bay xuống nhặt hộ, chẳng mấy chốc đã hết nhẵn.
Nhưng còn rừng ớt chín đỏ kia làm sao hái hết cho được. Người chồng cố hái ăn , bụng nóng như lửa đốt, mắt đỏ xè, thế mà mới ăn được mấy quả. Tiên ông thấy vậy , liền niệm thần chú hoá ra một đàn chim chào mào bay xuống ăn giúp. Trong giây lát cả rừng ớt chỉ còn trơ lại cành lá. (Ðến nay người Hê- rê giải thích chim chào mào đỏ đít là do ngày xưa nó ăn ớt cứu người).
Ðã đến lúc phải xây nhà kim cương giữa sông Hằng chảy xiết. Chàng trai và dân làng đổ rất nhiều công đẵn gỗ thả xuống sông, nhưng gỗ dù nặng dù to mấy đều bị nước cuốn phăng đi như cuốn một cái lá. Một ngày không được, một tháng không được, một mùa không được, một năm không xong, hết phương kế, chàng trai ôm con ngồi bên bờ sông than khóc thảm thiết.
Thần cá liền ra lệnh cho cá chình, cá sấp, cá chép, lươn chạch, cua, rùa, cá lóc, cá nghạnh... đều bơi lại giúp. Một con chình to lớn quẫy mạnh, nhô đầu lên bảo: "Anh đừng lo, ngày mai anh sẽ có nhà đẹp và sẽ được gặp vợ. Hãy vui lên, đừng khóc nữa!" Quả đúng như vậy, sáng hôm sau, khi mặt trời vừa thức giấc, bỗng có một ngôi nhà lấp lánh bằng kim cương hiện lên đồ sộ giữa sông. Chung quanh sóng vỗ rạt rào. Chiếc nhà do các loài cá xây nên, cá chình nhận làm cột, cá lóc làm sạp, cá sấp, cá chép làm mái nhà. Cá nghạnh làm xà, rùa làm bếp, cua làm móc chiêng, lươn, chình thì nối đuôi nhau thành một cái cầu tuyệt đẹp từ bờ ra đến giữa sông.
Ngọc Hoàng cùng thần hung ác thấy nhà đẹp mới chịu đem thuyền cho anh chàng nghèo sang sông gặp vợ. Còn bọn chúng thì hí hửng khiêng lúa, gạo, chiêng, ché ra nhà kim cương ở, chúng lao nhao tổ chức lễ ăn mừng. Nhưng khi vừa nhóm lửa nấu thịt thì rùa làm bếp bị nóng lưng quá lăn ngay xuống nước. Cùng lúc cá chình, cá lóc, cá sấp, cá trê... cũng lăn theo. Nhà đổ sập làm chìm cả lũ gian thần xuống dòng sông xẩy xiết đầy cá sấu, cá măng. Trời cao vòi vọi, sóng nước mênh mông trắng xoá.
Từ đó nàng tiên thứ chín và chồng được cai quản thiên đình, làm cho mưa rơi xuống, mát mẻ trần gian. Làm cho nắng chiếu xuống để cây cỏ xanh tươi, bốn mùa hoa nở. Lâu lâu họ chắp cánh bay xuống tắm ở suối ngọc rồi về thăm mẹ già và bà con quê cũ.
Kết Thúc (END)



Các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm của shop trẻ thơ tại: shop xeđẩy || bìnhsữagiárẻ || máyhútsữaHàNội